Xây dựng kế hoạch kinh doanh là một công cụ của hành động. nó cung cấp cho các công ty phương tiện để hành động tình trạng tương lai của nó
Ngày đăng: 06-12-2016
2,499 lượt xem
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KINH DOANH NHƯ MỘT CÔNG CỤ HÀNH ĐỘNG VÀ PHƯƠNG TIỆN DẪN DẮT DOANH NGHIỆP ĐẾN TRẠNG THÁI TƯƠNG LAI
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng phức tạp của nền kinh tế hiện đại, xây dựng kế hoạch kinh doanh không chỉ còn là một tài liệu mang tính hình thức nhằm phục vụ mục đích gọi vốn, huy động tài chính hay trình bày với cơ quan quản lý. Kế hoạch kinh doanh, ở góc nhìn quản trị hiện đại, là công cụ hành động mang tính tổng hợp, được thiết kế để chuyển hóa tầm nhìn chiến lược và các định hướng dài hạn của doanh nghiệp thành chuỗi hoạt động cụ thể, có thể đo lường, giám sát và triển khai một cách hiệu quả. Trong hệ thống quản trị doanh nghiệp, kế hoạch kinh doanh đóng vai trò cầu nối giữa trạng thái hiện tại và trạng thái tương lai mong muốn của tổ chức, thông qua việc mô tả cơ chế vận hành, nguồn lực, hiệu quả tài chính và các điều kiện cần thiết để đạt đến mục tiêu.
Kế hoạch kinh doanh được xem như bản đồ vận hành của doanh nghiệp. Nó xác định rõ các bước chuyển đổi từ hiện trạng sang trạng thái mục tiêu, lượng hóa các chỉ tiêu then chốt, phân bổ nguồn lực cần thiết và đánh giá tính khả thi của các quyết định chiến lược. Việc xây dựng kế hoạch kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá toàn diện các yếu tố nội bộ và ngoại lực, bao gồm nguồn lực tài chính, năng lực sản xuất, công nghệ, nhân sự, môi trường cạnh tranh, cơ cấu ngành, chính sách pháp lý và xu hướng thị trường. Trên cơ sở đó, kế hoạch kinh doanh trở thành cơ sở pháp lý để lập dự án đầu tư, báo cáo nghiên cứu khả thi, phương án kinh doanh – tài chính và các quyết định mở rộng quy mô trong tương lai.
Một kế hoạch kinh doanh hiệu quả thường bao gồm các nội dung cốt lõi: phân tích hiện trạng doanh nghiệp, mô tả mục tiêu chiến lược, phân tích thị trường, xây dựng mô hình kinh doanh, dự kiến doanh thu – chi phí – dòng tiền, phương án tổ chức thực hiện, quản trị rủi ro và hệ thống đo lường kết quả. Từng nội dung trong kế hoạch đóng vai trò vừa là công cụ dự báo vừa là công cụ hành động. Chẳng hạn, phân tích thị trường không chỉ giúp nhận diện cơ hội và thách thức mà còn thúc đẩy doanh nghiệp hành động theo định hướng thị trường. Tương tự, dự báo dòng tiền không chỉ để phục vụ tính toán hiệu quả tài chính mà còn là căn cứ để tổ chức hoạt động sản xuất, kiểm soát chi phí và quản trị vốn lưu động.
Trong góc độ pháp lý, kế hoạch kinh doanh là tài liệu nền tảng để lập hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư, hồ sơ dự án đầu tư, báo cáo thẩm định tài chính và hồ sơ vay vốn ngân hàng. Nhiều quy định pháp luật trong lĩnh vực đầu tư, tài chính, xây dựng và môi trường yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh hiệu quả kinh tế – khả năng vận hành – cơ sở pháp lý thông qua kế hoạch kinh doanh. Đặc biệt, đối với dự án đầu tư xây dựng, dự án sản xuất công nghiệp, du lịch, năng lượng, nông nghiệp công nghệ cao, cơ quan thẩm định luôn yêu cầu doanh nghiệp trình bày báo cáo nghiên cứu khả thi với nội dung hoàn chỉnh của kế hoạch kinh doanh. Vì vậy, xây dựng kế hoạch kinh doanh không chỉ mang ý nghĩa nội bộ mà còn là yêu cầu bắt buộc trong quá trình thẩm định pháp lý và huy động nguồn lực.
Trong môi trường kinh doanh động, kế hoạch kinh doanh cần đảm bảo tính linh hoạt nhưng phải có tính kỷ luật. Linh hoạt trong việc thích ứng với biến động thị trường, thay đổi chính sách, rủi ro bất định; kỷ luật trong việc duy trì mục tiêu, thực hiện đúng các chỉ tiêu cốt lõi và đảm bảo tính liên tục trong quá trình triển khai. Đây chính là yếu tố phân biệt giữa kế hoạch kinh doanh theo định hướng hành chính và kế hoạch theo định hướng hành động. Nếu kế hoạch hành chính thiên về liệt kê, mô tả và báo cáo, thì kế hoạch hành động lại tập trung vào giải pháp, trách nhiệm, nguồn lực và tiêu chí đo lường. Một kế hoạch hành động hiệu quả được thể hiện thông qua khả năng chuyển hóa thành quy trình vận hành thực tế.
Trong cấu trúc của kế hoạch kinh doanh hiện đại, yếu tố căn bản nhất là mô hình kinh doanh. Đây là nền tảng để xác định doanh nghiệp tạo ra giá trị như thế nào, phân phối giá trị ra sao và thu lợi nhuận bằng cách nào. Mô hình kinh doanh phải rõ ràng, phù hợp thị trường mục tiêu, có khả năng cạnh tranh bền vững và cho phép mở rộng quy mô. Khi mô hình kinh doanh được xác lập, kế hoạch kinh doanh đóng vai trò cụ thể hóa các hoạt động nhằm triển khai mô hình đó. Từ hoạt động marketing, bán hàng, vận hành sản xuất, xây dựng chuỗi cung ứng, đầu tư cơ sở vật chất, quản trị chất lượng, cho đến quản trị nhân sự đều được phân bổ trong cấu trúc kế hoạch.
Một điểm quan trọng khác là tính đo lường. Kế hoạch kinh doanh phải xác định rõ các chỉ tiêu hiệu suất chính (KPIs), chỉ tiêu tài chính, chỉ tiêu vận hành để doanh nghiệp kiểm soát hiệu quả trong từng giai đoạn. Các chỉ tiêu này bao gồm doanh thu mục tiêu, biên lợi nhuận, chi phí sản xuất, suất đầu tư, năng suất lao động, khả năng quay vòng vốn, lợi nhuận sau thuế, khả năng thanh toán và mức độ hoàn thành các mục tiêu chiến lược. Thông qua đo lường, doanh nghiệp có thể đánh giá độ lệch so với kế hoạch, xác định nguyên nhân và điều chỉnh kịp thời.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch kinh doanh, công tác dự báo giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Dự báo nhu cầu thị trường, dự báo biến động chi phí, dự báo hành vi khách hàng, dự báo xu hướng ngành, dự báo rủi ro và dự báo dòng tiền đều là các nội dung cần được thực hiện có cơ sở dữ liệu và phương pháp khoa học. Phương pháp dự báo có thể bao gồm phân tích chuỗi thời gian, mô hình hồi quy, phân tích kịch bản, phân tích nhạy cảm và phương pháp chuyên gia. Các phương pháp này nhằm đảm bảo rằng kế hoạch kinh doanh không chỉ dựa trên giả định chủ quan mà mang tính khoa học và bền vững.
Trong hệ thống quản trị rủi ro, kế hoạch kinh doanh được xem là công cụ để xác định và phân loại các nhóm rủi ro: rủi ro chiến lược, rủi ro tài chính, rủi ro thị trường, rủi ro pháp lý, rủi ro vận hành và rủi ro môi trường. Kế hoạch phải chỉ rõ cơ chế kiểm soát rủi ro, bao gồm phương án thay thế nguồn cung, phương án đảm bảo tài chính, phương án an toàn lao động, an toàn môi trường và các biện pháp ứng phó sự cố. Đặc biệt, đối với các dự án đầu tư quy mô lớn hoặc dự án yêu cầu thẩm định an toàn kỹ thuật – môi trường, nội dung quản trị rủi ro phải được trình bày đầy đủ để đáp ứng yêu cầu pháp lý.
Một kế hoạch kinh doanh hiệu quả cũng phải giải quyết vấn đề phân bổ nguồn lực. Nguồn lực tài chính phải được phân bổ theo thứ tự ưu tiên, đảm bảo dòng tiền cho các hoạt động thiết yếu. Nguồn lực nhân sự phải được tổ chức theo cơ cấu hợp lý, với mô tả chức năng – nhiệm vụ rõ ràng và phù hợp với mục tiêu dự án. Nguồn lực công nghệ và cơ sở vật chất phải được tính toán theo quy mô hoạt động. Việc phân bổ nguồn lực rõ ràng giúp doanh nghiệp tránh thất thoát, tăng hiệu quả đầu tư và tối ưu hóa vận hành.
Ở cấp độ chiến lược, kế hoạch kinh doanh là công cụ hành động giúp doanh nghiệp xác lập lộ trình phát triển dài hạn. Lộ trình này có thể bao gồm mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm mới, đầu tư công nghệ, nâng cấp hệ thống quản trị, triển khai số hóa hoặc mở rộng quy mô sản xuất. Lộ trình phải được xây dựng trên cơ sở phân tích dữ liệu, dự báo và điều kiện thực tiễn của doanh nghiệp. Khi kế hoạch được xây dựng theo phương pháp chiến lược – hành động, doanh nghiệp có thể kiểm soát được mức độ tiến triển, đánh giá hiệu quả và đảm bảo mục tiêu dài hạn được thực hiện theo đúng định hướng.
Xây dựng kế hoạch kinh doanh cũng là yêu cầu bắt buộc trong các dự án đầu tư, vì nó cung cấp căn cứ để cơ quan thẩm định đánh giá tính khả thi của dự án. Đối với các dự án sử dụng đất, dự án xây dựng, dự án công nghiệp, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, cơ quan thẩm định thường xem xét kỹ lưỡng năng lực tài chính, hiệu quả kinh tế và tính phù hợp quy hoạch. Kế hoạch kinh doanh phải trình bày rõ cơ cấu vốn, tổng mức đầu tư, chi phí vận hành, dự kiến doanh thu, lợi nhuận, thời gian hoàn vốn và các chỉ tiêu hiệu quả tài chính. Đây là các nội dung quan trọng để đánh giá tính phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và chiến lược ngành.
Một điểm quan trọng nữa là kế hoạch kinh doanh đóng vai trò truyền thông nội bộ. Khi doanh nghiệp có kế hoạch rõ ràng, nhất quán, các phòng ban và nhân sự trong tổ chức sẽ hiểu rõ mục tiêu chung, phương hướng hành động và vai trò của từng bộ phận. Điều này giúp tạo ra sự thống nhất trong quản trị và tăng tính chủ động trong triển khai công việc.
Cuối cùng, xây dựng kế hoạch kinh doanh là bước khởi đầu của quá trình hành động chiến lược. Nó không chỉ là tài liệu mô tả định hướng mà là phương tiện tổ chức hành động ở cấp độ chi tiết. Một kế hoạch tốt giúp doanh nghiệp dự báo tương lai, phân bổ nguồn lực hiệu quả, đo lường kết quả và quản trị rủi ro. Từ đó, doanh nghiệp có thể chuyển hóa trạng thái hiện tại sang trạng thái tương lai một cách chủ động, có tổ chức và có kiểm soát. Đây chính là bản chất của kế hoạch kinh doanh như một công cụ hành động và phương tiện dẫn dắt doanh nghiệp phát triển bền vững.
KHÁI NIỆM VỀ CHÍNH SÁCH VÀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KINH DOANH
CHÍNH SÁCH CHUNG: ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC NỘI DUNG CỦA KẾ HOẠCH KINH DOANH
1.1 Định nghĩa: Theo từ điển, chính trị trong tiếng Hy Lạp, là nghệ thuật và thực hành để cai trị thành phố. Chính sách chung của doanh nghiệp được xác định bởi các nhà lãnh đạo của công ty và cô dịch các ý định bền vững của công ty về bản chất của hoạt động của mình, kinh doanh cốt lõi của mình và bản chất của mối quan hệ của công ty với các bên liên quan trọng nội bộ (nhân viên và đại diện của họ) và ngoài (nhà cung cấp, khách hàng, cổ đông, đối thủ cạnh tranh,...). Chính sách chung của công ty là một tập hợp các nguyên tắc, tiêu chuẩn về hành vi, mà được phát hành bởi các chủ sở hữu của quyền lực và có áp dụng cho tất cả các nước sử dụng của công ty. Chính sách chung sẽ hướng dẫn các quyết định trong công ty trong khu vực chiến lược.
1.2 Nội dung của khái niệm các chính sách có trong thành phần chính khác: định nghĩa của tổ chức thông qua việc thực hiện cơ cấu của công ty và thông qua việc thực hiện các chế độ; Nghiên cứu kiểm soát tương lai của công ty; thông qua việc thực hiện một cách tiếp cận quy hoạch thông qua các phương pháp của các kịch bản và kiểm soát nội bộ.
II - QUY HOẠCH
2.1 Bản chất và sự phát triển của việc xây dựng kế hoạch kinh doanh
A - Bản chất của việc lập kế hoạch: Việc xây dựng kế hoạch kinh doanh là hàng đầu, tổ chức công ty theo một bộ quy tắc được áp dụng để thực hiện một dự án " kế hoạch là để thụ thai một tương lai mong muốn và cách đạt được điều này ".
- Quy hoạch không chỉ là dự báo. Nó không loại trừ rủi ro, nó không dẫn đến quyết định cho tương lai, nó không dẫn đến có ngày hôm nay quyết định áp dụng cho tương lai. Đó là để đưa ra quyết định áp dụng ngay lập tức ngày hôm nay nhưng mà do tính chất cam kết kinh doanh lâu dài. Ở mỗi giai đoạn tiếp theo, nó sẽ đưa ra quyết định phù hợp để đạt được mục tiêu kinh doanh và rộng hơn là dự án của công ty. Việc quy hoạch không phải là một mục tiêu ưu tiên để phát triển một kế hoạch. Kết quả của hành động này là ít quan trọng hơn so với kế hoạch hành động của chính nó. Các lực lượng hành động lập kế hoạch để phân tích tình hình của công ty.
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh là một công cụ của hành động. nó cung cấp cho các công ty phương tiện để hành động tình trạng tương lai của nó. Nó là một công cụ của sự gắn kết, nó cho phép điều chỉnh khác nhau và nhất quán của các nguồn lực thực hiện bởi các công ty. Nó là một công cụ của động cơ. Kế hoạch không xảy ra bởi chính nó. Nó không phải là dễ dàng để tìm thấy thời gian để phát triển một kế hoạch trong nhiều năm. Thông thường, các công ty áp dụng để hưởng lợi từ ngắn hạn "chất lượng"; nó không phải là thiết phải rõ ràng để suy nghĩ về lâu về dài.
B - Sự phát triển của việc xây dựng kế hoạch kinh doanh: Đây là giai đoạn tái thiết kinh tế; kinh tế phục hồi trên cơ sở tốt với các khoản đầu tư mạnh mẽ. phương pháp lập kế hoạch là thô sơ; kế hoạch hoạt động được gọi. Các dự báo này được thực hiện trên cơ ngắn hạn 1, 2 hoặc 3 tuổi. Kế hoạch vẫn đơn giản, nhìn hạn chế. Nó là rất hiếm để tìm cách thay đổi hoạt động hoặc phát triển một hoạt động sáng tạo.
Đây là giai đoạn tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Có một cuộc thi quốc tế phát triển. Đó là thời gian để lập kế hoạch chiến lược, khoảng 5-7 năm.
Đây là giai đoạn suy thoái ;. chúng tôi nói chuyện của cuộc khủng hoảng kinh tế. Sự phát triển của công nghệ và cạnh tranh quốc tế đã phát triển rất nhiều. 2 phương pháp làm việc đã xuất hiện: các phương pháp kịch bản và thiết lập hệ thống giám sát. Kế hoạch chiến lược là giai đoạn đầu tiên của quá trình lập kế hoạch. Nó liên quan đến việc phát triển một loạt các mục tiêu thống nhất của sự phát triển trong các lĩnh vực khác nhau của hoạt động của công ty với dự đoán của các công cụ tương lai.
Mục tiêu chiến lược là những biểu hiện cụ thể, ngày các mục tiêu chung và mục đích của công ty. Việc xây dựng kế hoạch kinh doanh được xác định các phương tiện để thực hiện một khuôn khổ đa năm để đạt được mục tiêu chiến lược, kế hoạch đầu tư và kế hoạch tài chính là hai khía cạnh thiết yếu của kế hoạch hoạt động. Kế hoạch hoạt động phân chia các mục tiêu và phương tiện trong thời gian và chức năng.
2.2 Quá trình lập kế hoạch: Quá trình lập kế hoạch có thể được mô tả như là quá trình lập kế hoạch của công ty trong nhiều giai đoạn:
1 – Xây dựng xứ mệnh công ty
2 - Định nghĩa của lĩnh vực kinh doanh chiến lược (DAS)
3 - lựa chọn danh mục đầu tư.
4 -. Xác định mục tiêu định lượng và định tính
5 -. Đánh giá môi trường
6 -. Đánh giá tài nguyên
7 -. kế hoạch nghiên cứu khoảng cách
8 - Xây dựng chiến lược về chính trị.
9 - Đánh giá các chiến lược và chính sách.
10 - Phát triển chương trình, kế hoạch, ngân sách.
A - Xác định khoảng cách chiến lược: Khoảng cách chiến lược là sự khác biệt giữa dự báo và mục tiêu. Sự khác biệt chiến lược không nhất thiết phải sửa chữa dứt điểm; chỉnh đôi khi cần thiết. Kế hoạch vẫn linh hoạt.
B - Các mục tiêu chung, cơ bản cho việc xây dựng kế hoạch kinh doanh
1 - Định nghĩa : Mục tiêu của công ty: đó là những sở thích làm nền tảng cho hành động. Mục tiêu chung là chưa thực hiện, họ có thể không được thể hiện. Họ trở nên rõ ràng khi một cuộc khủng hoảng phát sinh. Mục đích, nhiệm vụ: đây là những gì các khái niệm về lý do tại sao các công ty. Chúng ta phải quan tâm đến nhiệm vụ ban đầu.
Mục tiêu công ty: là mong muốn đạt được của các nhà lãnh đạo, có 3 khó khăn lớn nhất bao gồm sự bền vững, tăng trưởng, lợi nhuận.
Mục tiêu: đó là biểu hiện cụ thể của mục tiêu mà các nhà lãnh đạo. Nếu mục đích là để đạt được lợi nhuận tối đa, các mục tiêu này sẽ được thể hiện ở khía cạnh lợi nhuận.
2 - Sự đa dạng của các mục tiêu: Các mục tiêu kinh tế là định lượng nói chung, mặt khác, các mục tiêu không phải là kinh tế hiếm khi đo lợi nhuận là mối quan hệ giữa thu nhập và vốn cam kết để làm cho nó. Lợi nhuận kinh tế là mối quan hệ giữa thu nhập, trong một khoảng thời gian, và vật lý vốn thực hiện để có được; tỷ lệ lợi nhuận, đồng nghĩa cho một số tác giả của tỷ lệ lợi nhuận, được đo bởi báo cáo lợi nhuận để giá trị của cổ vật lý tài sản tham gia vào sản xuất. Lợi nhuận tài chính là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế và lãi suất thanh toán và vốn chủ sở hữu của công ty- đó là từ điểm nhìn của lợi nhuận cổ đông. Nói chung, những nguyện vọng cá nhân của nhà lãnh đạo vượt qua sau khi các vấn đề xã hội của công ty. Nguyện vọng cá nhân của các nhà lãnh đạo cũng giống như một nhiệm vụ cho uy tín, bảo mật, quyền tự trị. Sức mạnh và uy tín là một động lực quan trọng. Mối quan tâm xã hội đang ngày càng lớn, đặc biệt là đối với các công ty lớn. Một số công ty đã tạo ra cơ sở của các công ty như là một phần của mối quan tâm xã hội.
C. Phân tích mục tiêu xây dựng kế hoạch kinh doanh: Một số người tin rằng mục tiêu là kết quả của một quá trình phân tích và quyết định hợp lý, Những người khác cho rằng mục tiêu là kết quả của một cuộc đấu tranh quyền lực giữa các nhóm khác nhau trong công ty và rằng kết quả là họ không luôn luôn hợp lý.
GỌI NGAY – 0903649782 - 028 35146426
Gửi bình luận của bạn